Tiềm năng điện mặt trời của Việt Nam khoảng 963.000 MW
Tiềm năng điện mặt trời của Việt Nam khoảng 963.000 MW (mặt đất – 837.400MW, mặt nước – 77.400 MW và mái nhà – 48.200 MW). Đến năm 2030, tổng công suất các nguồn điện mặt trời (gồm điện mặt trời tập trung và điện mặt trời mái nhà, không tính đến các nguồn điện mặt trời theo khoản 5 Điều 10 Luật Điện lực số 61/2024/QH15) đạt 46.459 – 73.416 MW; định hướng đến năm 2050, tổng công suất 293.088 – 295.646 MW.
Bên cạnh đó, ưu tiên, khuyến khích phát triển các loại hình điện sinh khối, điện sản xuất từ rác, chất thải rắn nhằm tận dụng phụ phẩm nông lâm nghiệp, chế biến gỗ, thúc đẩy trồng rừng, xử lý môi trường ở Việt Nam. Năm 2030, tổng công suất nguồn điện sinh khối khoảng 1.523 – 2.699 MW; điện sản xuất từ rác, chất thải rắn khoảng 1.441 – 2.137 MW; điện địa nhiệt và năng lượng mới khác khoảng 45 MW. Định hướng đến năm 2050, điện sinh khối khoảng 4.829 – 6.960 MW; điện sản xuất từ rác, chất thải rắn khoảng 1.784 – 2.137 MW; điện địa nhiệt và năng lượng mới khác khoảng 464 MW.
Cơ cấu nguồn điện
Đến năm 2030: Tổng công suất các nhà máy điện phục vụ nhu cầu trong nước (không bao gồm xuất khẩu) là 183.291 – 236.363 MW, trong đó:
Điện gió trên bờ và gần bờ 26.066 – 38.029 MW (chiếm tỷ lệ 14,2 – 16,1%);
Điện gió ngoài khơi 6.000 – 17.032 MW đưa vào vận hành giai đoạn 2030-2035, có thể đẩy sớm tiến độ nếu điều kiện thuận lợi và giá thành phù hợp;
Điện mặt trời (gồm điện mặt trời tập trung và điện mặt trời mái nhà, không bao gồm các nguồn điện mặt trời theo khoản 5 Điều 10 Luật Điện lực số 61/2024/QH15) 46.459 – 73.416 MW (chiếm tỷ lệ 25,3 -31,1%);
Điện sinh khối 1.523 – 2.699 MW, điện sản xuất từ rác 1.441 -2.137 MW, điện địa nhiệt và năng lượng mới khác khoảng 45 MW; có thể phát triển quy mô lớn hơn nếu đủ nguồn nguyên liệu, hiệu quả sử dụng đất cao, có nhu cầu xử lý môi trường, hạ tầng lưới điện cho phép, giá điện và chi phí truyền tải hợp lý;
Thủy điện 33.294 – 34.667 MW (chiếm tỷ lệ 14,7 – 18,2%), có thể phát triển cao hơn nếu bảo đảm môi trường, bảo vệ rừng, bảo vệ an ninh nguồn nước;
Điện hạt nhân 4.000 – 6.400 MW đưa vào vận hành giai đoạn 2030 – 2035, có thể đẩy sớm tiến độ nếu điều kiện thuận lợi;
Nguồn lưu trữ 10.000 – 16.300 MW (chiếm tỷ lệ 5,5 – 6,9 %); Nhiệt điện than 31.055 MW (chiếm tỷ lệ 13,1 – 16,9%); Nhiệt điện khí trong nước 10.861 – 14.930 MW (chiếm tỷ lệ 5,9 – 6,3%); Nhiệt điện LNG 22.524 MW (chiếm tỷ lệ 9,5 – 12,3%);
Nguồn điện linh hoạt (nhiệt điện sử dụng nhiên liệu LNG, dầu, hydrogen… có độ linh hoạt vận hành cao) 2.000 – 3.000 MW (chiếm tỷ lệ 1,1 -1,3%);
Thủy điện tích năng 2.400 – 6.000 MW;
Nhập khẩu điện 9.360 – 12.100 MW từ Lào, Trung Quốc (chiếm tỷ lệ 4,0-5,1%, tăng tối đa quy mô nhập khẩu điện từ Lào theo Hiệp định giữa hai Chính phủ hoặc đẩy sớm thời gian nhập khẩu điện từ Lào về khu vực miền Bắc nếu điều kiện thuận lợi).
Điện gió trên bờ và gần bờ 26.066 – 38.029 MW (chiếm tỷ lệ 14,2 – 16,1%);
Điện gió ngoài khơi 6.000 – 17.032 MW đưa vào vận hành giai đoạn 2030-2035, có thể đẩy sớm tiến độ nếu điều kiện thuận lợi và giá thành phù hợp;
Điện mặt trời (gồm điện mặt trời tập trung và điện mặt trời mái nhà, không bao gồm các nguồn điện mặt trời theo khoản 5 Điều 10 Luật Điện lực số 61/2024/QH15) 46.459 – 73.416 MW (chiếm tỷ lệ 25,3 -31,1%);
Điện sinh khối 1.523 – 2.699 MW, điện sản xuất từ rác 1.441 -2.137 MW, điện địa nhiệt và năng lượng mới khác khoảng 45 MW; có thể phát triển quy mô lớn hơn nếu đủ nguồn nguyên liệu, hiệu quả sử dụng đất cao, có nhu cầu xử lý môi trường, hạ tầng lưới điện cho phép, giá điện và chi phí truyền tải hợp lý;
Thủy điện 33.294 – 34.667 MW (chiếm tỷ lệ 14,7 – 18,2%), có thể phát triển cao hơn nếu bảo đảm môi trường, bảo vệ rừng, bảo vệ an ninh nguồn nước;
Điện hạt nhân 4.000 – 6.400 MW đưa vào vận hành giai đoạn 2030 – 2035, có thể đẩy sớm tiến độ nếu điều kiện thuận lợi;
Nguồn lưu trữ 10.000 – 16.300 MW (chiếm tỷ lệ 5,5 – 6,9 %); Nhiệt điện than 31.055 MW (chiếm tỷ lệ 13,1 – 16,9%); Nhiệt điện khí trong nước 10.861 – 14.930 MW (chiếm tỷ lệ 5,9 – 6,3%); Nhiệt điện LNG 22.524 MW (chiếm tỷ lệ 9,5 – 12,3%);
Nguồn điện linh hoạt (nhiệt điện sử dụng nhiên liệu LNG, dầu, hydrogen… có độ linh hoạt vận hành cao) 2.000 – 3.000 MW (chiếm tỷ lệ 1,1 -1,3%);
Thủy điện tích năng 2.400 – 6.000 MW;
Nhập khẩu điện 9.360 – 12.100 MW từ Lào, Trung Quốc (chiếm tỷ lệ 4,0-5,1%, tăng tối đa quy mô nhập khẩu điện từ Lào theo Hiệp định giữa hai Chính phủ hoặc đẩy sớm thời gian nhập khẩu điện từ Lào về khu vực miền Bắc nếu điều kiện thuận lợi).
Nguồn: Baochinhphu.vn
